Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.

Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát
Trang: [1]
  In  
Tác giả Chủ đề: Đức Thái Thượng Lão Quân & Đạo giáo  (Đọc 3784 lần)
vanti67
Super Moderator
****
Offline Offline

Bài viết: 172



« vào lúc: 16:16, 19-01-2011 »




Hàng năm cứ vào ngày Rằm tháng Hai là các Tín Đồ Cao Đài chúng ta từ trung ương tới địa phương, từ Tòa Thánh tại Tổ Đình Tây Ninh cho đến các Thánh Thất tại các Phận Đạo thuộc Châu Thành Thánh Địa hoặc Tộc Đạo thuộc các Châu Đạo khác xuyên suốt các miền Nam Trung Bắc Việt Nam và Hải Ngoại đều cử hành Đại Lễ Vía Đức Thái Thượng Lão Quân vì Ngài nguyên là một trong ba vị đại diện cho Tam Giáo của Nhất Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ. Nay nhân dịp ngày Lễ trọng này, Tiện Đệ xin được cùng Quý Huynh Tỷ Đệ Muội ôn lại tiểu sử và Đạo giáo của Ngài.

Nhưng trước hết Tiện Đệ xin phép được trần tình cùng Quý Vị đôi điều. Như Quý Vị đã biết Lão giáo do Đức Lão Tử sáng lập là một trong ba tôn giáo lớn nhất ở Á Châu, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á. Tôn giáo này đã góp phần cùng Khổng giáo và Phật giáo tạo ra nền tảng phát triển cho văn hóa Việt Nam và chi phối không ít tư tưởng, hành tàng của chúng ta từ xưa tới nay. Tuy chỉ phát triển mạnh ở Đông Nam Á châu vào thời buổi xưa, nhưng trong bối cảnh đa quốc gia liên kết hay có thể gọi là toàn cầu hóa hiện nay thì sức ảnh hưởng của Lão giáo đã và đang giương rộng đến năm châu bốn bể. Cuộc đời và công đức của Đức Lão Tử và chư Đệ Tử của Ngài, đặc biệt là Ngài Trang Tử, đã được nhiều học giả Đông lẫn Tây phương ra công nghiên cứu và bình phẩm. Những gì người ta xưa nay viết về Ngài và Đạo giáo của Ngài quả là thiên pho, vạn quyển, và bằng nhiều ngôn ngữ, không sao kể xiết. Những thiên nghiên cứu và tài liệu này; như là một điều đương nhiên; gồm đủ những lời khen, tiếng chê và sự nghi vấn. Trong phạm vi một bài viết ngắn như thế nầy, Tiện Đệ chỉ có một nguyện vọng nhỏ là được ôn lại vài nét sơ lược về tiểu sử và Đạo giáo của Ngài như đã đề cập với Quý Vị ở trên mà thôi. Ngoài ra, vì tài liệu thì nhiều mà bài viết này lại được thực hiện rất gấp gáp, nên chắc chắn là nó sẽ có những điều thiếu sót, thậm chí có thể sai lầm. Ngưỡng mong Quý Huynh Tỷ Đệ Muội niệm tình bỏ qua và chỉ giáo dùm những điều sai sót ấy. Tiện Đệ xin chân thành cám ơn Quý Vị.

I. Đức Lão Tử và Đạo giáo qua cái nhìn của giới học giả

1. Tiểu Sử
Do quan niệm "Quân tử ẩn cư" nên lai lịch và hành tàng của Đức Lão Tử thuở sinh thời ít được đích thân Ngài hay Đệ Tử tiết lộ. Chỉ có ông Thái Sử Tư Mã Thiên ghi lại được một ít để làm tài liệu mà thôi. Đó là, Đức Lão Tử họ Lý tên Nhĩ tự là Đam; từng là Sử Quan, giữ tàng thư các của nhà Chu hay Châu. Chính nơi tàng thư các này, Đức Lão Tử đã tiếp Đức Khổng Tử và hai vị này đã tranh luận nhiều về lễ nghi và phép tắc, vốn là những nền tảng của Khổng giáo. Đức Lão Tử phản đối mạnh mẽ những nghi thức của Đức Khổng Tử và cho chúng là rỗng tuếch. Ngoài sự ghi nhận hết sức vắn tắt đó về Đức Lão Tử, những điều khác chúng ta được biết về Ngài đều là huyền sử và truyền thuyết tưởng chừng như thực thực, hư hư.

Theo những tài liệu khác, thì Đức Lão Tử tên là Lý Nhĩ, tên tự là Bá Dương và thuỵ hiệu là Lão Đam. Ngài được sinh ra ở huyện Khổ, nước Sở, hiện nay là Lộc Ấp thuộc tỉnh Hà Nam. Tính theo Dương lịch thì Ngài sinh ra vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Tuy nhiên cũng có những học giả cho rằng Ngài sinh ra trong thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên, nhằm với thời Bách Gia Chư Tử hay còn được gọi là thời Xuân Thu Liệt Quốc.

Lão Tử theo tiếng Hán có nghĩa là "Bậc thầy già cả" hoặc là "Đứa trẻ già" và sau này được chuyển tự thành Lao Tzu, hoặc Lao Tse, hoặc Laotze hoặc Laostsu... Đức Lão Tử còn được gọi là Lão Quân, Lý Lão Quân, Thái Thượng Lão Quân, Thái Thượng Đạo Quân, Thái Thượng Đạo Tổ, Lão Tử Đạo Quân, Huyền Đô Đại Lão Gia, Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế... Theo truyền thuyết, thì Đức Lão Tử là một vị cao niên đầu hói với một chòm râu trắng rất dài. Ngài thường cưỡi trên lưng một con trâu nước. Có vài tài liệu cho biết khi mới ra đời râu tóc của Đức Lão Tử không hề bạc, có chăng là một sợi ria mép bạc trắng. Điều này có thể giải thích tại sao trong một số tranh về Đức Lão Tử Ngài có một bộ râu màu đen.
« Sửa lần cuối: 12:43, 21-01-2011 gửi bởi phongthuyquan » Logged
vanti67
Super Moderator
****
Offline Offline

Bài viết: 172



« Trả lời #1 vào lúc: 16:18, 19-01-2011 »

2. Đạo giáo

Kiệt tác của Lão Tử là quyển Đạo Đức Kinh và có được khi ông rời khỏi nhà Châu. Lúc đó, do nhận thức rằng chính sự của vương quốc này đã đến hồi suy đồi nên Ngài bèn quyết định ra đi. Theo truyền thuyết, Ngài cưỡi trâu về phía Tây, ngang qua nước Tần và biến mất vào sa mạc rộng lớn. Lúc đó, có một người lính gác cửa tên Doãn Hỷ ở cửa phía tây của Vạn Lý Trường Thành thuyết phục Lão Tử viết lại những hiểu biết của mình trước khi ra đi. Cho tới lúc ấy, Lão Tử mới chịu viết để lại cuốn Đạo Đức Kinh mà thôi.

Theo những học giả am tường về nền văn hóa Trung Hoa, và từng nghiên cứu ít nhiều về Đạo Đức Kinh, thì tác phẩm này là một trong những cuốn chuyên luận đáng chú ý nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc. Nó đụng chạm tới nhiều vấn đề của triết học từ tính chất duy linh của cá nhân và động lực giữa các cá nhân cho đến các kỹ thuật chính trị.

Trong quyển sách này, Đức Lão Tử đã khai triển khái niệm "Đạo" thành một trật tự vốn có hay thành một tính chất của vũ trụ: "[Đạo là] cách thức của thiên nhiên". Theo Ngài, "Đạo trống không, nhưng đổ vào mãi mà không đầy. Đạo sâu thẳm, dường như là tổ tông của vạn vật" hoặc "Đạo mà ta có thể nói đến được, không phải là Đạo thường còn. Danh mà ta có thể gọi được, không phải là Danh thật sự. [bởi vì] Vô danh là gốc của thiên địa, hữu danh là mẹ của vạn vật". Ngài nhấn mạnh khái niệm Vô Vi, hay "sự hành động thông qua sự không hành động". Điều này không có nghĩa là người ta chỉ nên ngồi một chỗ và không làm gì cả, mà có nghĩa là ta phải tránh các mục đích rõ rệt, các ý chí mạnh, hay thế chủ động; ta chỉ có thể đạt tới hiệu quả thực sự bằng cách đi theo con đường của mọi vật, tự động tăng và tự động giảm. Những hành động được thực hành theo Đạo rất dễ dàng và có hiệu quả hơn mọi cố gắng để chống lại nó.

Về mặt triết học, thì Đạo có thể được xem là cao siêu hơn mọi khái niệm vì nó là cơ sở của sự tồn tại, là nguyên nhân siêu việt và như vậy, là tất cả, bao gồm tồn tại và phi tồn tại. Trên cơ sở này thì những người hữu tình như chúng ta đều không thể đàm luận, định nghĩa một cách ráo riết về Đạo bởi vì mỗi một định nghĩa mà chúng ta đưa ra đều có hạn chế. Đạo là cả hai, là sự siêu việt mọi hạn lượng mà cũng là nguyên lý bên trong vũ trụ. Cái Dụng của Đạo tạo ra âm dương, nhị nguyên, những cặp đối đãi và từ sự biến hóa, chuyển động của hai đối lực âm dương mà phát sinh ra thế giới thiên hình vạn trạng như cái thế giới mà chúng ta đang sống.

Ngoài ra, giống với những lý lẽ phản đối do Plato, nhà triết học Hy Lạp, đưa ra trong quyển Cộng Hòa về nhiều hình thái chính phủ. Đức Lão Tử cho rằng việc lập ra các luật lệ để chuẩn mực hóa và cai trị chúng dân chỉ dẫn tới một xã hội khó kiểm soát hơn.

Tương tự như nhiều nhà tư tưởng Trung Quốc khác, cách giải thích tư tưởng của Ngài luôn sử dụng sự phản biện, loại suy, sử dụng các câu nói từ trước, lặp lại, đối xứng, vần và chuỗi sự kiện lập lại. Những đoạn văn của Ngài trong quyển Đạo Đức Kinh rất giống như thơ và khó hiểu. Những vần thơ này được coi là những điểm khởi đầu cho sự suy xét về vũ trụ học hay quan sát nội tâm. Nhiều lý thuyết mỹ học trong nghệ thuật Trung Hoa đã có được cảm hứng từ những ý tưởng của Ngài và từ vị Đệ Tử nổi tiếng của Ngài là Trang Tử, qua quyển Nam Hoa Kinh.

Đề cập đến Đạo giáo của Đức Lão Tử, cho đến hôm nay nhiều người vẫn còn chưa biết rõ là Đạo của Ngài khởi phát từ lúc nào. Qua những tài liệu có được thì người ta thấy được là tôn giáo này hình thành một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu thượng cổ khác. Đạo này kết hợp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời nhà Châu (từ năm 1040 đến năm 256 trước Công Nguyên), chẳng hạn như vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành; thuyết về năng lượng, chân khí; thuyết âm dương và Kinh Dịch (một trong Ngũ Kinh của Nho gia). Ngoài ra, Đạo giáo cũng thực hành những phương pháp tu luyện thân tâm vốn có trước đó trong việc điều hòa hơi thở: Thái Cực quyền, Khí Công, Thiền Định; thiết tưởng linh ảnh, thuật luyện kim đơn, và những huyền thuật khác cũng được thâu dụng với mục đích đạt sự trường sinh bất tử.

Có một lập luận cho rằng, thời điểm đầu tiên mà Đạo giáo được xác nhận như là một tôn giáo là vào năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên Sư Đạo như là một tổ chức tín ngưỡng.

Một lập luận khác cho rằng thời điểm khởi phát của Đạo giáo không phải là vào năm 215 mà vào năm 125 thuộc đời Đông Hán. Nếu lấy cuộc Cách Mạng Tam Dân Tân Hợi 1911 làm mốc điểm thì Đạo giáo đã trải qua năm giai đoạn, đó là:

1. Khởi nguyên Đạo giáo: Từ thời cổ đại đến đời Đông Hán (Triều đại Hán Thuận Đế, 125-144)

2. Đạo giáo sơ kỳ: Từ đời Hán Thuận Đế đến cuối đời Đông Hán (144-220)

3. Phát triển và chuyển hóa Đạo giáo: Từ đầu đời Tam Quốc đến cuối đời Ngũ Đại (220-960)

4. Phân nhánh Đạo giáo thành các tông phái: Từ đầu đời Tống đến cuối đời Nguyên (960-1368)

5. Đạo giáo thăng trầm trong đời Minh và Thanh (1368-1911).

Trong quá trình phát triển, Lão giáo, Khổng giáo và Phật giáo đã không ít lần xung đột với nhau. Riêng Phật giáo, khi mới du nhập vào Trung Hoa dã phải thích ứng với phong tục và văn hóa của Trung Hoa bằng cách vay mượn các thuật ngữ và khái niệm truyền thống trong Huyền học (Đạo giáo). Đồng thời Lão giáo cũng không tránh khỏi việc chịu ảnh hưởng của Phật giáo. Trong kinh điển Đạo giáo có rất nhiều điểm triết lý mà chúng ta không thể nào phân biệt được với triết lý Phật giáo. Mặc dù sự ảnh hưởng qua lại này có vai trò tích cực nhất định trong sự phát triển của hai tôn giáo, nhưng chính nó cũng đã gieo mầm mống cho sự mâu thuẫn, xung đột về sau. Rồi các thế lực chính trị đã khai thác mối mâu thuẫn này cho quyền lợi của từng đời vua. Các Tăng Ni và các Đạo sĩ vì thế luân phiên nhau được/bị hết triều đại này tới triều đại khác trọng đãi và khinh bạc.

Căn cứ theo phương pháp tu luyện, Đạo giáo cũng được chia thành hai nhánh Bắc Nam (tức Nam Tông và Bắc Tông). Có hai chủ trương: nhấn mạnh phương pháp "tu tánh" và nhấn mạnh phương pháp "tu mạng". Cả hai đương nhiên là xuất khởi từ một nguồn, nhưng do sự khác biệt về khu vực địa lý nên phân chia thành hai trường phái Nam và Bắc. Tại phương bắc, Toàn Chân phái phát triển mạnh nhất. Tại phương nam, hưng thịnh nhất là Thiên Sư phái, sau đó phái này đổi tên thành Chánh Nhất phái. Có giai đoạn Đạo giáo đã có tới 120 chi phái khác nhau. Trong thư viện Bạch Vân Quán tại Bắc Kinh còn lưu trữ tài liệu của 86 tông phái Đạo giáo.

Tây Du Ký và Phong Thần là hai trong những tác phẩm ghi lại nhũng mâu thuẫn giữa Đạo giáo và Phật giáo, cũng như là giữa các tông phái Đạo giáo.
Quay trở lại với cái nhìn của giới học giả về Đức Lão Tử và Đạo giáo của Ngài; thì với những sự hiểu biết tóm tắt như trên, cho đến hôm nay vẫn còn một số vấn đề mà họ đặt ra và đây cũng có thể là những công án đòi hỏi nhiều năm tới nữa họ mới có thể giải đáp được; trừ phi họ chịu để cho tâm hồn thanh thản, lắng đọng lại và không để cho những lý trí lăng xăng chi phối thì may ra mỗi người sẽ có một kết luận thích đáng cho riêng mình; không phải Đức Lão Tử đã từng nói chúng ta "không thể dùng lý trí mà hiểu được Đạo. Muốn hiểu Đạo, phải dùng Tâm mà thôi" đó sao?!; đó là:

- Cuộc tranh luận giữa Đức Lão Tử và Đức Khổng Tử có thể chỉ là do những người Đạo giáo thêu dệt ra nhằm nâng cao vị thế triết học của họ so với Khổng giáo.

- Tác giả đích thực của quyển Đạo Đức Kinh có thể đã tạo ra những đặc tính hư cấu để nguồn gốc cuốn sách mang nhiều vẻ huyền bí hơn, và nhờ thế sẽ dễ dàng đưa nó vào đời sống quảng đại quần chúng hơn.

- "Lão Tử" là một bút danh của Đam, Thái Sử Đam; hay một ông già ở Lai, một quận thuộc nước Tề; hay một nhân vật lịch sử nào đó.

- Đạo Đức Kinh có thể chỉ là một cuốn sách thuần tuý hướng dẫn cho các Hoàng Đế về việc cai trị đất nước.

- Đạo Đức Kinh không phải do Đức Lão Tử đích thân biên soạn ra mà chỉ là một quyển tuyển tập thơ do các đệ tử của Ngài biên soạn và hoàn tất.

II. Đức Lão Tử trong Đạo Cao Đài

1. Tiểu sử

Đức Lão Tử giáng sanh vào giờ Sửu, ngày 15 tháng Hai âm lịch năm Canh Thìn, vào đời vua Võ Đinh nhà Thương (vào năm 1234 trước Công nguyên), tại gốc cây Lý ở xóm Khúc Nhơn, làng Lại, huyện Khổ, nước Sở, nay thuộc An Huy, tỉnh Hà Nam. Theo truyền thuyết, Mẹ Ngài mang thai Ngài tới 72 năm mới hạ sanh. Khi mới chào đời tóc Ngài đã bạc trắng nên được gọi là Lão Tử, có nghĩa là con già và cũng có nghĩa là ông Thầy già. Do được sanh ra tại cây Lý nên Ngài lấy tên cây đó làm họ. Ngài lại xưng hiệu là Lão Đam, tự là Bá Đương. Ngoài ra, vì mỗi tai Ngài có tới 3 cái lỗ nên người thời đó còn gọi Ngài là Lý Nhĩ. Ngài có miệng rộng, răng thưa, thiên đỉnh cao, râu tốt, mắt vắn, tai dài, sóng mũi cao lớn nhữ chẻ hai, trên trán có hình ba chữ Tam Thiên. Được biết, Đức Lão Tử là chơn linh của Đức Thái Thượng Đạo Quân (hay Thái Thượng Đạo Tổ) giáng trần.

Sở dĩ, chúng ta biết được Đức Lão Tử giáng trần vào ngày 15 tháng Hai là vì Ngài có giáng cơ cho biết, qua bài thi:

"LÝ đào mầm tược tượng long lân,
LÃO luyện đơn thành nhị xác thân.
TỬ phủ ngồi lo tu nấu thuốc,
GIÁNG sanh Thương đợi Võ Đinh quân"

Qua hết nhà Thương (Ân), tiếp đến thời nhà Châu, đời vua Võ Vương (1122 trước Công nguyên), Đức Lão Tử ra làm quan Trụ Hạ Sử tại tàng thư các của nhà Châu để có cơ hội nghiên cứu Bát Quái Đồ. Theo bài Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp tại Đền Thánh, nhân ngày Vía Đức Thái Thượng Lão Quân, Rằm tháng Hai Mậu Tý (Dl, 25/03/1948), thì "nhờ nghiên cứu Bát Quái Đồ nầy mà Đức Lão Tử biết được sự bí mật của càn khôn vũ trụ và vạn vật hữu hình nơi mặt thế nầy. Nhờ đó, Ngài biết được con người mang xác thịt không thể vi chủ được xác thân mình. Con người cần phải tìm ra cho được cái thân thiệt vi chủ, rồi mới nắm cả linh giác của con người trong kiếp sanh, phóng lên cao vô biên vô tận, để đoạt vị Thần, Thánh, Tiên, Phật".

...Theo truyền thuyết, Đức Khổng Tử đã có lần đến gặp Đức Lão Tử để hỏi về lễ. Sau một hồi đàm đạo, Đức Lão Tử nói rằng: "Một người tự cho là thông minh, hay bàn về sở trường, sở đoản của người khác, tưởng mình hiểu biết sâu sắc, loại người đó đang bước dần tới sự diệt vong. Những người thông minh thực sự thì ít nói, ít bình luận, vì họ hiểu rằng, nói nhiều thì hại lắm. Người thông minh thực sự, tự cho mình là ngu xuẩn, không hiểu gì, không biết gì, bởi vì họ hiểu rằng đa sự là đa nạn. Một thương nhân giầu có, luôn cất giấu tài sản, vờ là nghèo khổ. Mong rằng ông có thể bỏ được các tật thích kiêu ngạo, ham công danh, ưa nói trội và dù có là người hùng thực sự thì vẫn nên xuất hiện với tư thế khiêm nhượng".

Đến khi Đức Khổng Tử kiếu ra về thì Đức Lão Tử nói: "Người giàu thì lấy của đưa nhau. Tôi chẳng phải giàu, xin trộm làm người nhơn, lấy lời nói mà đưa ông".

Đức Khổng Tử về, bảo với các học trò của Ngài rằng: "Con chim ta biết nó bay, con cá ta biết nó lội, con thú ta biết nó chạy. Đối với loài chạy thì ta có thể dùng lưới để săn, đối với loài lội trong nước thì ta có thể dùng câu để bắt, đối với loài bay thì ta có thể dùng cung tên để bắn; đến như con rồng cưỡi mây cưỡi gió bay trên trời, ta không sao biết đặng. Hôm nay gặp Lão Tử, ông ta có lẽ là con rồng chăng? "....

Sau khi hiểu thấu lý và đạt Đạo, Đức Lão Tử rời khỏi nhà Châu và cưỡi một con trâu màu xanh đi về hướng núi Côn Lôn. Khi Ngài đi tới Ải Hàm Cốc thì gặp quan giữ ải tên là Doãn Hỷ. Ông Doãn Hỷ xin Đức Lão Tử dạy đạo. Thấy ông Doãn Hỷ có lòng thành khẩn nên Đức Lão Tử nhận làm môn đệ, và bằng lòng ở lại Ải Hàm Cốc 3 tháng để dạy ông Doãn Hỷ học Đạo Tiên. Khi ra đi, Đức Lão Tử để lại cho ông Doãn Hỷ một cuốn sách tên là Đạo Đức Kinh, gồm 5363 chữ.

Được biết, từ thời tạo dựng Trời Đất có nhơn loại đến giờ, không có thời nào mà Đức Lão Tử không giáng trần để độ những người có căn lành tu hành đắc Đạo.

Ngài do khí Tiên Thiên hóa sanh, nên Ngài có phép thuật huyền diệu vô biên, biến hóa vô cùng, khi hiện xuống cõi trần, khi trở lại Thiên Cung; khi đi đầu thai xuống trần, làm người cho dễ truyền Đạo. Do đó, Ngài có rất nhiều danh hiệu. Lão Tử chỉ là một kiếp hóa thân của Ngài.

Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Thái Thượng không giáng sanh nữa, mà Ngài dùng huyền diệu cơ bút giáng cơ dạy Đạo mà thôi. Ngài giao cho Đức Đại Tiên Trưởng Lý Thái Bạch, thay mặt cho Ngài, cầm quyền Tiên Giáo, làm Nhứt Trấn Oai Nghiêm, điều đình Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
« Sửa lần cuối: 13:02, 21-01-2011 gửi bởi phongthuyquan » Logged
vanti67
Super Moderator
****
Offline Offline

Bài viết: 172



« Trả lời #2 vào lúc: 16:19, 19-01-2011 »

3. Đạo giáo

Đạo giáo có từ rất lâu đời, khi hình thành xã hội loài người, nhưng thuở đó con người chưa văn minh, chưa có chữ viết, nên chỉ dạy nhau bằng cách truyền khẩu mà thôi. Đó là thời Nhất Kỳ Phổ Độ, Đức Thái Thượng Đạo Tổ giáng trần mở Đạo giáo ở Trung Quốc.

Qua Nhị Kỳ Phổ Đệ, Đức Thái Thượng Đạo Tổ lại giáng sanh một lần nữa là Đức Lão Tử, cùng thời và lớn tuổi hơn Đức Khổng Tử, để chấn hưng Đạo giáo, nên Đạo giáo còn được gọi là Lão giáo. Cứu cánh của Đạo giáo là dạy tu luyện thành Tiên, nên Đạo giáo còn được gọi là Tiên giáo.

Lão giáo rất được tôn sùng như Nho giáo, nhưng Lão Giáo chủ trương tu xuất thế, không tham dự vào việc đời; khác hẳn với Khổng giáo hay Phật giáo chủ trương nhập thế để sửa thế, nên các môn đồ của Đạo giáo thường bất đồng, kích bác các môn đồ của Khổng giáo hay Phật giáo.

Học thuyết của Đạo giáo rất cao siêu, ít người hiểu thấu; bậc thượng trí thì ít, bực hạ trí thì nhiều nên họ hiểu Lão giáo theo lối thấp kém, biến Đạo giáo thành lối luyện bùa phép, pháp thuật trừ quỷ khiển tà, làm nhiều điều dị đoan, sai lạc hẳn tôn chỉ cao thượng buổi đầu.

Nhưng đến năm Giáp Tý (1924) là năm Khai Ngươn và sau đó là năm Bính Dần (1926) là năm Khai Đạo Cao Đài tức Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ; mở đầu một kỷ nguyên tế độ mới, chấm dứt Nhị Kỳ Phổ Độ, bước sang thời kỳ Tam Kỳ Phổ Độ, với một nhân loại có trình độ tiến hóa rất cao.

Tam Kỳ Phổ Độ có nhiệm vụ chấn hưng cả 3 nền tôn giáo: Khổng (Thánh), Lão (Tiên) và Thích (Phật) giáo; loại bỏ những sai thất và tái lập chơn truyền của Tam giáo lại trong một tôn giáo, đó là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay gọi tắt là Đạo Cao Đài, do chính Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế làm chủ.

Đạo Đức Kinh gồm có 81 chương, chia làm 2 phần Thượng và Hạ; lời lẽ rất khúc chiết, ý nghĩa rất uyên thâm; bàn luận về hai chữ Đạo và Đức, về Cơ Tạo Đoan định vị Trời Đất, hóa sanh vạn vật. Vạn vật khi sanh thành rồi thì mỗi vật đều tích lũy Đạo và Đức nơi mình để sống và tiến hóa.

Trong Đạo Đức Kinh, Đức Lão Tử còn dạy về lý Vô Vi. Theo Ngài, nếu muốn hòa vào Đạo chúng ta nên thực hiện phương pháp Tứ Vô; đó là: vô cầu, vô tranh, vô đoạt và vô chấp.

- Vô cầu: giúp ta vô vọng, xa lìa vọng tưởng điên đảo.
- Vô tranh: giúp ta vô đại, xa lìa ý tưởng hơn thua, cao thấp, hay dở.
- Vô đoạt: giúp ta vô thủ, xa lìa ý tưởng có, không, được, mất.
- Vô chấp: giúp ta vô ngại, xa lìa ý tưởng trược, thanh, chánh, tà.
Theo Đức Lão Tử, nguyên nhân của sự thất bại là vì "có làm" (hữu vi). Người có làm tất thất bại, người muốn cầm giữ tất bị mất. Cho nên Thánh nhân không làm việc gì nên không bao giờ bại, không giữ cái gì nên không bao giờ mất. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần lưu ý rằng quan niệm "không làm" của Đức Lão Tử, như từng được đề cập ở trên, là làm nhưng xuôi theo tự nhiên và không cầu, không tranh, không đoạt, không chấp chứ chẳng phải đơn thuần là không máy động tay chân.

Chủ nghĩa Vô Vi cốt là để diệt những nguyên nhân tai hại từ khi chúng còn trong trứng nước, chưa phát hiện được. Lão Tử nói: Làm cách Vô Vi, thờ cái Vô Sự, mến cái Vô Vị (không mùi vị). Lớn, nhỏ, nhiều, ít đều lấy Đức báo lại sự thù oán. Lo việc khó từ khi còn dễ, làm việc lớn từ khi còn nhỏ.

Đức Lão Tử có một lần giáng cơ dạy Đạo cho Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu, Tiện Đệ xin được trích dẫn ra sau đây mấy đoạn:
"Cơ Trời mầu nhiệm đối với Đời, mà máy Thiên cơ đối với Đạo lại càng huyền vi thận trọng hơn nữa, có lẽ tâm phàm dầu cao kiến đến đâu cũng chưa đạt thấu được. Những vai tuồng của Chí Tôn sắp đặt trên sân khấu Đạo, nếu so sánh lại, cũng chẳng khác chi những bậc nguyên nhân lãnh phận sự dìu đời từ xưa đến nay mà thôi.

Muốn an tâm tỉnh trí và đè nén lửa lòng, cần phải có một nghị lực vô biên, một tâm trung quảng đại, thì mới khỏi bực tức với những trò, đã vì mạng lịnh thiêng liêng, phô diễn nơi thâm hiểm nặng nề nầy.

Nên biết rằng, mỗi việc chi đều có hạn định, có căn nguyên, dầu các bậc tiền bối cũng vậy. Phải lấy nét đạo đức mà đoán xét, thì mới hiểu thấu sự mầu nhiệm vĩ đại của Chí Tôn sắp đặt... ".

***
Kính thưa Quý Vị, phàm xưa nay ai làm việc chi cũng đều đặng lời khen, tiếng chê trừ phi khoanh tay thúc thủ. Ngay cả các vị Tổ Sư của các tôn giáo mà cũng không thoát khỏi thói thường tình đó của thế nhân. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Khổng Tử, Đức Lão Tử, Đức Chúa Giê Su v.v... còn bị miệng đời thị phi, thì huống hồ gì là những người phàm phu đang tu hành.

Tiện Đệ thiển nghĩ mỗi khi chúng ta làm việc chi mà không hổ với lương tâm, không nghịch với lương tri của mình và kết quả của việc làm đó mang lại lợi ích cho nhiều người, hơn là có lợi cho mình; thì chúng ta hãy học hạnh nhẫn theo lý Vô Vi của các bậc Tiền Hiền mà chuyên chú vào công việc để nó được thành công mỹ mãn hơn; thay vì bị phân tâm, thối chí và bỏ dỡ dang nghiệp Đạo.

Ngoài ra, hạnh khiêm hạ cũng là một điều tối cần thiết trên bước đường Đời cũng như đường Đạo. Lời dạy chí tình của Đức Lão Tử dành cho Đức Khổng Tử cũng là một bài học mà chúng ta cần tiếp thu và trau luyện. Nếu không có hạnh này thì chúng ta đã tự gây ra trắc trở, khó khăn cho chính mình rồi. Công không thành, quả chẳng mãn đa phần cũng vì thiếu hạnh này mà ra.

Vài dòng suy niệm, Tiện Đệ xin trình bày để kết thúc bài viết này, nếu có điều chi sai sót, hoặc mộ phạm Tiện Đệ kính xin Quý Vị niệm tình bỏ qua.
« Sửa lần cuối: 13:08, 21-01-2011 gửi bởi phongthuyquan » Logged
Trang: [1]
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.12 | SMF © 2006-2009, Simple Machines LLC
PinkDream Theme by berkanTr
Valid XHTML 1.0! Valid CSS!